THÔNG TIN

1 / 1

Má Nguyễn Thị Nhỡ

x

1926

Đã mất

2016

x

Sài Gòn - Gia Định

177 Phan Đình Phùng, P.17, Q.Phú Nhuận

TIỂU SỬ

Năm 1957, má hưởng ứng lời kêu gọi của tịnh xá Ngọc Hương che chở cho cách mạng, Má đã không ngần ngại tham gia, trở thành một trong những ba Má đi đầu trong việc ủng hộ phong trào thanh thiếu niên thành phố giai đoạn kháng chiến chống Mỹ.
Cùng với các phật tử và tăng ni trong chùa, công việc của Má là nấu cơm chăm sóc, nuôi giấu cán bộ cách mạng ở chùa, đồng thời Má còn là người giao liên, giao thư từ, công văn từ tịnh xá Ngọc Hương đến các chùa khác.
Má mất năm 2016.

HÌNH ẢNH

GIẢI THƯỞNG

Má Nguyễn Thị Nhỡ: Hậu phương vững chắc của thế hệ học sinh, sinh viên kháng chiến chống Mỹ

Má Nguyễn Thị Nhỡ, sinh năm 1924, là một trong những ba má đã nhiệt tình hưởng ứng phong trào Học sinh –Sinh viên thành phố Sài Gòn trước năm 1975, đã có công trong việc che giấu các cán bộ cách mạng, là hậu phương vững chắc để cách mạng thành công như ngày hôm nay.

Má Nguyễn Thị Nhỡ đã mất năm 2016. Khi chúng tôi thực hiện bài viết này năm 2014, má vẫn còn sống nhưng không còn khỏe do tuổi cao.

Cách mạng đến từ cửa Phật

Từ năm 30 tuổi, Má đã theo Phật và tu hành tại chùa Phổ Quang, P.1, Q.Phú Nhuận. Khi ấy, phong trào đấu tranh chống Mỹ đang vô cùng mạnh mẽ, hướng đến những thắng lợi to lớn. Má đến với cách mạng chỉ là tình cờ nhưng Má đã tin, yêu và đi theo cách mạng, một lòng nuôi giấu cán bộ, là hậu phương vững chắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.  

Hưởng ứng lời kêu gọi của tịnh xá Ngọc Hương - nơi mình đang tu hành, che chở cho cách mạng, Má đã không ngần ngại tham gia, trở thành một trong những ba Má đi đầu trong việc ủng hộ phong trào thanh thiếu niên thành phố giai đoạn kháng chiến chống Mỹ. Lúc bấy giờ, cùng với các phật tử và tăng ni trong chùa, công việc của Má là nấu cơm chăm sóc, nuôi giấu cán bộ cách mạng ở chùa, đồng thời Má còn là người giao liên, giao thư từ, công văn từ tịnh xá Ngọc Hương đến các chùa khác.

Má kể rằng: “Mỗi lần đưa thư, Má rất cẩn thận, toàn bộ giấy tờ Má bỏ vào giỏ, phía trên để mấy loại rau củ hay đậu và hiển nhiên đi qua các đồn giặc mà không ai nghi ngờ”. Cứ thế, công việc của Má cứ tiếp tục, Má đã chăm lo cho không biết bao nhiêu cán bộ cách mạng, đưa không biết bao nhiêu thư từ cho đến ngày đất nước giải phóng. Dù hiện nay, hầu như những người cán bộ Má từng nuôi giấu đã chết, đã hy sinh, dù Má đã già không còn nhớ tên, nhớ mặt những cô cậu học sinh, sinh viên, người cán bộ ấy nhưng hình ảnh và không khí sục sôi kháng chiến vẫn như còn nguyên vẹn và văng vẳng bên tai. Giờ đây, mỗi khi ngồi kể lại câu chuyện chống Mỹ, mắt Má vẫn sáng lên một nhiệt huyết của tuổi trẻ.

Một lòng vì đất nước

Má bắt đầu tham gia phong trào cách mạng lúc gần 40 tuổi. Bấy giờ, chế độ Ngô Đình Diệm đang “hoành hành” khắp đất Sài Gòn. Má vẫn còn nhớ như in ngày cụ Thích Quảng Đức tự thiêu 11/6/1963, tại ngã tư đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu và Cách Mạng Tháng Tám, Q.3, TP.HCM), lúc ấy, phong trào kháng chiến của đông đảo thanh niên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Làn sóng biểu tình phản đối chính quyền Sài Gòn ngày càng tăng cao và trong những ngày tháng cao trào đó, Má đã cùng mọi người xuống đường, hòa vào dòng chảy đấu tranh cách mạng. Má kể, lúc đó cảnh sát quốc gia trấn áp biểu tình rất dữ, bắn đạn hơi cay về phía những người tham gia. Có những học sinh chạy trốn vào nhà, Má lấy quần áo của các con Má cho các bạn mặc vào ngụy trang để tránh sự truy bắt gắt gao của cảnh sát.

Khi hỏi rằng Má có thấy sợ không khi che giấu cho bao cán bộ, học sinh thanh niên cách mạng, Má khẳng khái: “Má già rồi, có gì đâu mà sợ”. Thời đó, tuy cuộc sống còn bao khó khăn, đặc biệt dưới chế độ Mỹ Diệm, nhưng các ba Má đã không ngại khó, ngại khổ, vay mượn gạo khắp nơi để nuôi giấu cán bộ. Má nhắc nhiều đến hình ảnh hiên ngang của các cô gái công khai tinh thần chiến đấu chống giặc. Mang trên mình chiếc áo bà ba khắc những dòng chữ yêu nước, chống giặc, bị giặc bắt cởi bỏ và chính Má đã tận tay mặc lại những chiếc áo khác cho các chiến sĩ trẻ. Hơn nữa, Má cũng là một trong những người bị giặc bắt cởi bỏ áo nhưng Má vẫn cười to khi nhắc đến kỷ niệm này với một tinh thần đấu tranh như đang sống dậy.

Mỗi khi nhắc đến những năm tháng chống Mỹ cứu nước, hòa mình trong phong trào thanh thiếu niên cùng kháng chiến, mắt Má vẫn sáng rực lên ngọn lửa yêu nước. Tổ Quốc, cách mạng sẽ mãi ghi công những con người đã thầm lặng cống hiến sức mình vì nền độc lập, tự do của đất nước.

Má tin và đi theo Phật cũng giống như Má đã tin và đi theo cách mạng. Đến nay, Má vẫn là một phật tử và đồng thời cũng mãi là con người của cách mạng. Hiện nay, Má vẫn thường xuyên đi chùa, đọc kinh. Dù tuổi đã cao, mất ngủ thường xuyên nhưng Má vẫn dành nhiều thời gian để “tụng kinh, niệm Phật” để cầu cho anh linh các chiến sĩ đã hi sinh vì Tổ quốc. Đó chính là cái duyên để từ Phật, Má đã gắn mình với cách mạng.

ĐỨC DUY

Theo bài viết của Hà Mi - Anh Duy - Lê Thoa (2014)