THÔNG TIN

1 / 1

Má Nguyễn Thị Thu Hường

Phương Đài

1932

Đã mất

2016

không rõ

Vĩnh Long

98/5 Thích Quảng Đức, P.05, Q.Phú Nhuận

TIỂU SỬ

Gia đình của Má có truyền thống yêu nước và hoạt động cách mạng, mười mấy tuổi Má đã xuống đường hô khẩu hiệu, viết biểu ngữ rồi rải truyền đơn ...
Má ra sức giúp đỡ cán bộ cách mạng, năm 1966 thành lập cơ sở bí mật đặt tại L71, Thành Ủy Sài Gòn – Gia Định.
Má Hường là hội viên Hội nhà văn Việt Nam, Phó chủ nhiệm Hoài Nam Thi Xã, viết rất nhiều thơ và đảm nhận biên tập thơ cho báo An Lạc.
Tháng 7/1969, một người quen của gia đình Má khai chỉ điểm, Má bị bắt vào Khám Lớn Sài Gòn. Trong nhà lao, nhân kỷ niệm ngày Nam Bộ kháng chiến 23/09, má với mấy anh chị em tù cách mạng hồ hởi hát mừng mặc cho địch tra tấn.

GIẢI THƯỞNG

Má Nguyễn Thị Thu Hường: Nhà thơ làm cách mạng

Má Hường (tên thật là Nguyễn Thị Thu Hường) rất thích ngâm thơ. Đó như là một một thú vui tao nhã lúc sinh thời.

 

Má Nguyện Thị Thu Hường đã mất năm 2016. Khi chúng tôi thực hiện bài viết này năm 2014, má vẫn còn sống nhưng không còn khoẻ vì những căn bệnh tuổi già.

 

Tấm lòng yêu nước kiên trung

 

Gia đình của Má gốc Vĩnh Long có truyền thống yêu nước và hoạt động cách mạng. Mười mấy tuổi đời, Má đã xuống đường hô khẩu hiệu, viết biểu ngữ rồi rải truyền đơn, chả biết sợ là gì.  Má kể “bén duyên” với cách mạng sớm lắm, từ nhỏ đã cùng gia đình nuôi giấu cách mạng. Đến năm 1966, má hỗ trợ tạo lập căn cứ cách mạng. Cơ sở bí mật ấy đặt tại L71, Thành Ủy Sài Gòn – Gia Định.

Lúc bấy giờ thời cơ đã đến, phong trào cách mạng sục sôi và quyết liệt hơn bao giờ hết, bọn giặc lại càng ráo riết truy lùng sát hại cán bộ ta. Má kể lại: “ Lúc đó đông cán bộ đến lắm, ngày nào cũng có cuộc họp ở trong nhà, coi bộ riết rồi cái nhà nó như cái cơ sở vậy. Mấy đồng chí còn cự nhau sao lại để tập trung lực lượng ở đây nhiều vậy, không an toàn. “Mấy ổng” sợ gia đình tui bị phát hiện. Tui thì chả sợ, cứ như bình thường.”

 

Má đã từng giúp đỡ bao nhiêu đồng chí Má cũng không còn nhớ rõ tên, chỉ nhớ bí danh  “Ba Cảnh”, “Tám Tiến”, “Sáu Chiến”,… Trong số những đồng chí Má từng giúp đỡ thì đồng chí Mai Sơn (bí danh Ba Sơn) có lẽ là người để lại trong Má những ấn tượng sâu sắc nhất. Má nói “ Ổng hay đến nhà tui gửi giao liên, có khi ăn cơm trưa, rồi tui dẫn ổng đi may đồ. Hồi đó ổng đóng giả ông giáo để che mắt giặc. Ổng là người ăn nói, tác phong đoàng hoàng, làm việc mau lẹ quyết đoán”.

 

Thi sĩ làm cách mạng lãng mạn

Má không chỉ là một người phụ nữ gan dạ hết lòng giúp đỡ cách mạng, trong mặt trận nghệ thuật, Má còn là một nữ thi sĩ tinh tế, sâu sắc với bút danh Phương Đài.

 

Má Hường là hội viên Hội nhà văn Việt Nam, Phó chủ nhiệm Hoài Nam Thi Xã. Trong những năm kháng chiến Má viết rất nhiều thơ và đảm nhận biên tập thơ cho báo An Lạc. Tên thiếu tá ngụy Tạ Tụy đã có lần đến tận nhà Má, ngỡ đâu hắn đã đánh hơi được mùi cán bộ. Nhưng hắn đến vì mê thơ, Má kể “Suốt buổi nó chỉ toàn nói chuyện thơ, nó khen thơ tui sao mà giống tâm trạng nó, tui chỉ biết cười”.

Thơ Má nhẹ nhàng đi vào lòng người, làm lay động cả tâm hồn tàn cỗi của bọn giặc. Chắc cũng vì vậy mà ngôi nhà nhỏ bé của Má luôn được an toàn. Thơ của được đăng trên nhiều báo: báo Chính Luận, báo Trắng Đen, báo Sài Gòn, báo Tiếng gọi miền Nam,… được nhiều người hâm mộ. Má nói “Tính tui không ham hơn thua, danh vọng, thơ cũng chỉ làm về quê hương, cuộc sống, về nhân nghĩa luân thường…”. Thơ Má không châm biếm sâu cay nhưng thơ Má là cả một chân trời sâu lắng, bình dị, an yên và thâm thúy, tinh tế.

 

Chính vì tài năng nghệ thuật của Má và sự hâm mộ, tin yêu của quần chúng mà Má được nhận một nhiệm vụ quan trọng. Năm 1968, được sự chỉ đạo của nhà thơ Viễn Phương và đồng chí Sáu Chiến, Má cùng nhiều văn nghệ sĩ thành lập Hội văn nghệ sĩ Phật giáo Gia Định. Hội tổ chức nhiều đêm diễn tuyên truyền cách mạng, chủ nghĩa hòa bình núp dưới danh nghĩa quyên góp ủng hộ đồng bào nghèo, được quần chúng nhiệt liệt tham gia ủng hộ.

 

Có lần đi diễn về, Má bị xe jeep của địch chặn lại hỏi “Sao giờ này không lo về nhà cơm nước cho chồng con mà còn tụ tập ở đây?”. Má khẳng khái trả lời: “Chừng nào tui xuống đường biểu tình sẽ báo cáo cho ngài, việc đó là công khai. Ngài không phải bận tâm đến mấy trò văn nghệ cỏn con này đâu!” Được hậu phương vững chắc là chồng và các con, Má an tâm đi hoạt động. Chồng Má làm thư kí ở nhà thuốc cũng giúp cách mạng tiếp tế thuốc men ra chiến trường.

 

Tiếng hát trong nhà lao

Tổng tiến công và nổi dậy Xuân mậu Thân năm 1968 giáng một đòn khiếp sợ vào tâm lí kẻ địch. Không khí cách mạng giờ đây sục sôi, cháy bỏng hơn bao giờ hết, bọn giặc cũng tàn bạo hơn, chúng lùng sục bắt giết khắp nơi. Cuối năm 1968, đường dây nuôi giấu cán bộ bị lộ, nhiều người bị bắt tra tấn dã man. Tháng 7/1969, một người quen của gia đình Má khai chỉ điểm, Má bị bắt vào Khám Lớn Sài Gòn. Má kể “Tui bị bắt vừa mừng vì không có đồng chí nào bị bắt tại nhà mình, vừa tủi thân hay tin tui đang mang thai được ba tháng”.

Ôm trọn đòn roi tra tấn tàn độc vào thân thể Má cắn răng không hé một lời, đợi ngày độc lập. Má kể: “Kỷ niệm ngày Nam Bộ kháng chiến 23/09, tui với mấy anh chị em trong tù hát mừng mà tụi nó xách cây chạy vào đánh. Thây kệ, cứ hát, vui lắm cảnh nào cũng vui!” Sau hơn một năm, bọn chúng buộc phải thả Má vì không có bằng chứng. Người phụ nữ kiên trung đó tròn bổn phận với cách mạng, kiên quyết không khai nửa lời; tròn bổn phận làm mẹ, sinh con ngay trong cảnh tù đày tủi cực. Má nói: “Lúc đó nhìn đứa con mà tôi ứa nước mắt, muốn tung cánh bay ra khỏi chốn lao tù cho con được thấy ánh sáng tự do.”

 

Sau giải phóng, má sống giản dị, hạnh phúc với con cháu. Má vẫn yêu thơ, yêu đời. Nhà văn Thiếu Sơn từng nói về Má: “Phương Đài làm cách mạng lãng mạn”. Quả thật bên trong cái dáng vẻ yểu điệu thục nữ kia là một nội lực mãnh liệt và phi thường. Má đã 81 tuổi mà tâm hồn tươi trẻ, ấm áp lạ. Má dạy “Tốt thì nhớ, oán thù nên cởi mở. Phải biết sống giữ đạo đức, cho nhau nhân nghĩa. Nên mở lòng yêu thiên nhiên, yêu người, yêu đời”. Má mong thế hệ tương lai biết khắc phục cái lạc hậu, chín chắn trước những cám dỗ thử thách, đưa đất nước tới ngày mai tương đẹp, diệu kỳ.

 

Má hay ngâm những câu thơ như vận vào cuộc đời của mình:

“Ta qua bao mùa xuân

Qua bao mùa vui, khổ

Thử thách bạc Mái đầu

Yêu đời vẫn thắm sâu….”

ĐỨC DUY

Theo bài viết của Trần Thị Vân Anh (2014)