THÔNG TIN

1 / 1

Má Lê Thị Thu

Má Thu

1928

Sức khỏe yếu

Tiền Giang

178/4/8H Phan Đăng Lưu, P.04, Phú Nhuận

TIỂU SỬ

Họ và tên: Lê Thị Thu
Năm sinh: 1928
Quê quán: Tiền Giang
Chồng: Cao Văn Mưu - chiến sĩ cách mạng
Hoạt động cách mạng:
- Thời kỳ kháng chiến chống Pháp: Má Thu thoát ly gia đình đi theo cách mạng, làm công tác xóa mù chữ trong Bình dân học vụ.
- Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ: Má mở nhà in năm 1971, ngụy trang thành in thiệp cưới nhưng thực chất để in tài liệu, truyền đơn cho Thành Đoàn để phục vụ đấu tranh chính trị cho phong trào học sinh - sinh viên

HÌNH ẢNH

GIẢI THƯỞNG

Hậu phương lớn của phong trào học sinh - sinh viên

            90 tổi, mái tóc bạc phơ, vầng trán đầy những nếp thời gian, nhưng trong ký ức của má Lê Thị Thu vẫn nhớ rõ như in từng câu chuyện trong những năm tháng hoạt động cách mạng. Với má, đó là cả một thời tuổi trẻ sôi nổi mà đến giờ, khi kể lại mắt má vẫn ánh lên niềm tự hào.

            Cả nhà làm cách mạng

           Cứ ngỡ nói về thời chiến sẽ là những đau khổ, bom đạn nhưng trong lời kể của má Thu, mọi thứ trở nên thật mạnh mẽ và hào hùng. Má sinh ở Tiền Giang, là con gái út trong một gia đình 9 anh em. Khi chưa đầy 17 tuổi, má thoát ly gia đình để đi theo “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tham gia kháng chiến chống Pháp.

            Và trong bom đạn khốc liệt của chiến tranh năm 1946, một tình yêu đẹp đã nãy nở khi má gặp gỡ chiến sĩ cách mạng Cao Văn Mưu, và ba Mưu trở thành bạn đời của má . “Thời đấy mà, ban ngày bom giội lên đầu, thế mà ban đêm, lễ cưới vẫn tổ chức, dù không trọn vẹn nhưng anh chị em trong cứ vẫn ca hát rộn ràng lắm”, má Thu vui vẻ kể lại.


Má Thu và ba Mưu thời trẻ


            Thế nhưng, tình yêu thời chiến nào được trọn vẹn, cưới nhau xong lại mỗi người một việc. Má tiếp tục công tác tuyên truyền, dạy chữ cho những người mù chữ, còn ba thì hoạt động cách mạng nhiều nơi. Má kể “ Đi kháng chiến khó khăn gian khổ lắm, lúc nào cũng phải luồn lủi trong rừng sâu, sốt rét, bệnh tật, chạy giặc, chứng kiến cảnh bao nhiêu người phải hy sinh vì chiến tranh mà đau lòng lắm!” Rồi đến trước chiến dịch Mậu Thân 1968, chồng Má khi đưa các đồng chí cán bộ Thành Đoàn họp để chuẩn bị cho hoạt động giải phóng trước Mậu Thân thì bị chỉ điểm trong Hội Chánh khai và bị bắt. Do bị bắt nhưng không khai báo nên bị chuyển hết nhà tù này đến nhà tù khác, từ trại giam Phú Lợi, Biên Hòa, Thủ Đức, sau chuyển về trại giam Chí Hòa.

            Đó là khoảng thời gian đầy thử thách với má. Một thân một mình vừa nuôi chồng ở tù, vừa nuôi con nhỏ, ba mẹ chồng, vừa tham gia các hoạt động kháng chiến. Má kể: Tối nào ba Mưu với mấy đồng chí cũng bị giặc đem ra tra tấn ép cung, thậm chí mua chuộc vì ba Mưu giỏi tiếng Anh. Má nghe kể mà thương lắm. Nên dù đi từ chỗ trại giam đến thăm nuôi rất xa, mỗi lần thăm chỉ được 10 phút, nhà có gì ngon, có gì tốt đều mang vào cho chồng cả, cốt là để chia sẻ cho anh em đồng chí  cùng ăn. Tất nhiên, má vẫn giữ mình không để giặc phát hiện là người của cách mạng.

               Dù khó khăn, má vẫn một mình gánh vác cả gia đình. Má bán nước mía để kiếm thêm thu nhập. Do không quen sử dụng máy, má bị kẹt tay vào máy xay nước mía dẫn đến biến dạng tay. Sợ chồng và gia đình biết sẽ lo lắng, má giấu cả nhà, cắn răng chịu đựng để kiếm tiền lo cho chồng con. Đến giờ, bàn tay ấy là dấu tích duy nhất còn lại từ thời chiến của má.

            Khó khăn có nhưng niềm vui thời chiến cũng có, má kể lúc ở trong tù, ba đã thêu rất nhiều tranh, bây giờ một số bức treo ở nhà truyền thống quận Phú Nhuận, ở nhà cũng treo vài bức kỉ niệm. Hồi đó, chồng má còn làm thơ gửi về cho má để động viên, đến giờ má vẫn lưu giữ những dòng thơ ấy. Đó là động lực lớn người phụ nữ này một mình nuôi con suốt những năm tháng chiến tranh.

            Má có 7 người con, 4 con gái và 3 con trai.. Cả nhà từ chồng, con đến cháu đều tham gia cách mạng. Con má là học sinh, sinh viên hoạt động ở trường Võ Thị Sáu, Lê Văn Việt thời điểm cao trào của phong trào học sinh - sinh viên Sài Gòn. Năm 1971, một người con trai của má đi đường Trường Sơn ra miền Bắc học đến khi giải phóng.


            Thương sinh viên như con mình

            Không chỉ nuôi chồng, con, những năm kháng chiến má còn nuôi cả học sinh, sinh viên, những người làm công tác tuyên truyền, biểu tình. Má Thu từng là đứa con út được cưng chiều trong gia đình nhưng vẫn không quản khó khăn, sự ngăn cấm của cha mẹ để tham gia cách mạng, vì đó mà má hiểu được những khó khăn của sinh viên tham gia kháng chiến.

            Năm 1971, má mở nhà in Tân Việt Nam, bên ngoài in thiệp cưới, bên trong in tài liệu, truyền đơn cho Thành Đoàn để phục vụ đấu tranh chính trị cho phong trào học sinh - sinh viên. Dù biết rằng nếu để Mỹ bắt được là cầm chắc cái chết, nhưng má vẫn in truyền đơn số lượng lớn, không những thế còn nuôi hàng chục thanh thiếu niên tham gia Cách mạng.

            “Hồi đó mọi thứ đều phải làm bí mật, nhà in của má như cái trạm liên lạc quốc tế. Ai có tin tức gì cũng báo về đây rồi thay nhau truyền tin đi. Ngày xưa gan dạ lắm, có sợ gì đâu, việc gì cũng làm được”, má Thu hào hứng nhớ về tuổi trẻ của mình.

                Thời điểm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Sài Gòn liên tục nổ ra nhiều cuộc biểu tình của học sinh, sinh viên.Khi học sinh, sinh viên bị lính Mỹ bắt, má Thu tìm mọi cách ngăn cản, dùng tiếng nói, khả năng ngôn luận của mình để giành lại những đứa con của mình, dù nhiều khi các ba má còn không biết người mình vừa liều mạng để cứu là ai. Thế nhưng, họ luôn xác định được, đó là thế hệ thanh niên cách mạng của Tổ quốc, đang đấu tranh giành lại độc lập, tự do cho đất nước.


Dù hiện tại tuổi đã cao, má Thu vẫn luôn quan tâm đến thế hệ thanh niên


            Người phụ nữ ấy, lúc trẻ thì làm giao liên, sau này thì nuôi chiến sĩ,trở thành hậu phương vững chắc. Má bảo, má coi những người người chiến sỹ ấy như con cháu trong gia đình nên luôn hết lòng giúp đỡ.  Sau giải phóng, má vẫn làm Hội trưởng Hội phụ nữ của phường 17, quận Phú Nhuận, rồi Ban chấp hành Hội Phụ nữ của quận.

            Dù không trực tiếp cầm súng trên chiến trường, song từ những lời kể trên, có thể phần nào hình dung được những công lao và sự hi sinh của các ba má phong trào. Họ chính là những con người đầy nhiệt huyết, sức trẻ, sẵn sàng đấu tranh để có được hòa bình như hiện nay.

Ý NHUNG